Khi các nhóm và tổ chức phát triển, các giả định đã được xây dựng nên về việc điều chỉnh cho phù hợp với môi trường bên ngoài và sự hội nhập trong nội bộ cũng phản ánh các giả định sâu xa hơn đối với những vấn đề trừu tượng hơn, tổng quát hơn từ đó con người cần sự đồng thuận để có một hình thái xã hội. Nếu chúng ta không thể thống nhất được đâu là sự thật, bằng cách nào để xác định đâu là chân lý và đâu là sai lầm, làm thế nào để đo lường thời gian, để phân bổ không, bản chất con người là gì, làm thế nào để mọi người sống hài hòa với nhau thì không thể xây dựng được xã hội.

Bởi vì các xã hội khác nhau đã phát triển nên những câu trả lời khác nhau cho mỗi câu hỏi nêu trên, chúng ta có nhiều văn hóa trên thế giới, và các văn hóa vĩ mô này ảnh hưởng đến cách thức phát triển của các nhóm và tổ chức trong đó. Các loại văn hóa vĩ mô điển hình nhất mà người ta vẫn hay đề cập đến thời điểm này là: các văn hóa quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngành nghề. Theo đó, hành vi cạnh tranh mang tính cá nhân chủ nghĩa vẫn được coi là điều đương nhiên trong các doanh nghiệp Hoa Kỳ, cũng như tinh thần đồng đội trong các công ty Nhật Bản. Việc ôm hôn nhau nơi công cộng vẫn được chấp nhận tại Hoa Kỳ, nhưng hoàn toàn không thể chấp nhận được tại Saudi Arabia. Việc nói đúng những gì bạn đang nghĩ trong đầu cho sếp nghe là điều được mong đợi trong các công ty Đức, nhưng có thể là không khả thi trong các doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản.

Khi chúng ta tìm hiểu sự hình thành của các nhóm với xuất phát điểm mang tính đa quốc gia, chẳng hạn như các tổ chức được sáp nhập như British Petroleum và Amoco hoặc các liên doanh giữa nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia khác nhau, chúng ta thấy được sự bất đồng tại mức độ trừu tượng cao hơn này đã gây khó khăn đặc biệt cho sự hình thành và vận hành của nhóm như thế nào. Cách tốt nhất để tư duy về các loại hình mà chúng ta sẽ tìm hiểu là xem chúng về căn bản là những đặc trưng của văn hóa vĩ mô, có ảnh hưởng rộng đến sự hình thành văn hóa tổ chức, văn hóa bộ phận và văn hóa vi mô.

Các khía cạnh được xem xét đều dựa trên những khái niệm do nhà xã hội học Talcott Parsons (1951) đầu tiên xây dựng nên và được phát triển thành một tập hợp các khía cạnh giá trị bởi Kluckhohn và Strodbeck (1961) để họ tiến hành một nghiên cứu so sánh kinh điển về 4 loại hình văn hóa tại khu vực Tây Nam Hoa Kỳ – Anglo, Hispanic, Mormon và Navajo. Tuy nhiên tôi lại làm rõ trên cơ sở là những trải nghiệm của chính mình tại các quốc gia khác nhau, với những loại hình được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1: Các giả định sâu sắc hơn trong các văn hóa vĩ mô

Các giả định chung được chia sẻ về bản chất của sự thật và chân lý

Một phần nền móng của mỗi văn hóa là tập hợp các giả định về việc cái gì là sự thật và làm thế nào để xác định và tìm ra sự thật. Các giả định này cho phép những thành viên trong nhóm biết được cách thức để xác định các thông tin phù hợp, có liên quan, cách lý giải thông tin và cách để xác định khi nào họ đã có đủ thông tin và có thể ra quyết định có hành động hay không, và cần có hành động gì.

Ví dụ, như tôi đã nhiều lần trình bày, sự thật và chân lý tại DEC được xác định bởi những cuộc tranh cãi và các tiêu chí thực dụng đối với tính hiệu quả. Nếu không thể hoặc quá khó để tiến hành việc kiểm tra khách quan, ý tưởng đề xuất sẽ được đưa ra tranh luận để xem nó có thể đứng vững được sau cuộc kiểm tra mức độ phụ thuộc vào những phân tích mang tính phê phán gay gắt hay không. Tại Ciba-Geigy, người ta nhấn mạnh hơn đến các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm và quan điểm của những người được cho là có kinh nghiệm và thông thái. Cả hai công ty này đều tồn tại trong một văn hóa rộng hơn là văn hóa phương Tây, bị thống trị bởi các khái niệm về khoa học và dựa trên kiến thức từ góc độ trải nghiệm. Nhưng sự khác biệt lớn giữa hai công ty này cho thấy rằng ngay cả khi cùng nằm trong một bối cảnh văn hóa vĩ mô thì vẫn có sự khác biệt giữa các định nghĩa về sự thật, tùy theo các văn hóa vĩ mô của ngành nghề (ở đây là ngành kỹ sư điện tử và hóa học) và văn hóa quốc gia (Đức – Thụy Sĩ và Hoa Kỳ).

Các cấp độ của sự thật

Sự thật tự nhiên biểu hiện ra ngoài là những sự việc có thể được xác định theo phương pháp thực chứng bởi những kiểm tra khách quan, hay theo truyền thống phương Tây vẫn gọi là kiểm tra “mang tính khoa học”. Ví dụ, nếu có hai người đang tranh luận về việc một mảnh kính có thể bị vỡ hay không, họ sẽ đập bằng búa và biết kết quả (Festinger, 1957). Nếu hai nhà quản lý tranh luận với nhau về việc cần tung ra sản phẩm nào, họ có thể thống nhất việc tiến hành một cuộc kiểm tra thị trường và đưa ra các tiêu chí, từ đó giải quyết được vấn đề. Mặt khác, nếu hai nhà quản lý tranh luận về việc nên ủng hộ cho chiến dịch vận động tranh cử nào, họ sẽ đều đồng ý rằng chẳng có tiêu chí cụ thể nào để giải quyết xung đột này cả.

Các văn hóa khác nhau sẽ có những giả định khác nhau về đâu là những bộ phận cấu thành nên sự thật tự nhiên. Chẳng hạn, nhiều người trong số chúng ta sẽ không cho rằng thế giới tâm linh hoặc năng lực ngoại cảm là có căn cứ thực tế, nhưng trong các nền văn hóa khác thì các hiện tượng này lại được coi là có thật.

Sự thật mang tính xã hội liên quan đến những sự vật mà các thành viên trong nhóm đều coi là vấn đề của sự đồng thuận, không thể hiện ra ngoài, không thể kiểm tra bằng trải nghiệm thực tế. Bản chất của con người – cách đúng đắn để con người liên kết với tự nhiên và với người khác, sự phân bổ quyền lực và toàn bộ các quá trình chính trị, các giả định về ý nghĩa của cuộc sống, ý thức hệ, tôn giáo, biên giới của nhóm, và bản thân văn hóa – rõ ràng là những vấn đề về sự đồng thuận và không thể được xác định bằng trực giác. Cách thức để nhóm định nghĩa chính nó và các giá trị nhóm đã chọn rõ ràng là không thể đem ra kiểm tra, xét từ góc độ nhận thức truyền thống về kiểm tra mang tính khoa học, thực nghiệm nhưng vẫn được duy trì bền vững và được nhất trí chia sẻ với nhau. Nếu người ta tin một điều gì đó và xác định nó là có thật, thì điều đó trở thành sự thật đối với nhóm.

Trong bối cảnh quốc tế, không có cách nào để kiểm tra xem ai đúng ai sai trong các xung đột về lãnh thổ hay một hệ thống niềm tin. Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Afghanistan là một minh chứng đầy đủ. Việc thương lượng trở nên vô cùng khó khăn khi mỗi bên đều có những giả định rất khác nhau về “sự thật”, dẫn đến việc các quốc gia phải vận dụng sức mạnh kinh tế và quân sự. Câu chuyện dở khóc dở cười về một nhà ngoại giao non nớt đã đề xuất người Arab và người Israel nên cùng nhau giải quyết các bất đồng bằng thái độ của những người Thiên Chúa Giáo cũng là một ví dụ làm rõ luận điểm này.

Một trong những lý do tại sao khó ra các quyết định trong kinh doanh và tại sao việc quản lý về căn bản là điều phức tạp là: thiếu đồng thuận về việc phạm vi ra quyết định đó mang tính tự nhiên hay xã hội. Để một tổ chức có các hành động liền lạc, nó phải có các giả định chung được chia sẻ về việc: quyết định nào là có thể được hình thành từ thực nghiệm, và quyết định nào dựa trên các tiêu chí được đồng thuận, chẳng hạn “Hãy để những người nhiều kinh nghiệm nhất quyết định” hay “Quyết định bởi đa số”. Cần chú ý rằng sự đồng thuận phải có được đối với các tiêu chí và quy trình ra quyết định chứ không nhất thiết đồng thuận về bản thân quyết định sau cùng. Ví dụ, trong truyền thống dân chủ phương Tây, chúng ta đều giả định về nguyên tắc đa số thắng thế, nhưng không có cơ sở thực nghiệm nào cho tiêu chí này. Thực ra, đối với nhiều loại quyết định, nguyên tắc đa số có thể là cách tệ hại nhất để ra quyết định bởi vì nó phân hóa cuộc tranh luận thành hai nhóm “thắng” và “thua”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Share this:

  • Twitter
  • Facebook

Thích bài này:

Thích Đang tải…

Có liên quan